ĐỀ SỐ 1: ĐỀ THI HỌC KỲ 1 NGỮ VĂN 9, PHÒNG GD & ĐT PHÙ CÁT, BÌNH
ĐỊNH
NĂM HỌC: 2018-2019
Thời gian làm bài: 90 Phút
Mục tiêu
- Kiểm tra, đánh giá năng
lực học sinh trong học kì I đã qua.
- Tích hợp phần văn bản và
phần tiếng Việt qua các bài đã học.
- Rèn luyện kĩ năng viết
câu, trình bày đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh.
I. PHẦN VĂN – TIẾNG VIỆT
Câu 1:
Đọc kĩ đoạn văn sau rồi thực
hiện các yêu cầu bên dưới:
“- Quê cháu ở Lào Cai
này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu được đi xa lắm cơ đấy, hóa lại không. Cháu
có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận. Kết quả:
bố cháu thắng cháu một - không. Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên
thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận
đây. Chú ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy,
tháng ấy, không quân ta hạ đựơc bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với
cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế. Chú lái máy bay có nhắc đến bố
cháu, ôm cháu mà lắc “Thế là một - hòa nhé!”. Chưa hòa đâu bác ạ. Nhưng từ hôm ấy
cháu sống thật hạnh phúc. Ơ, bác vẽ cháu đấy ư? Không, không, đừng vẽ cháu! Để
cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn”.
(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam)
a. Nhận
biết
Đoạn văn trên trích trong
tác phẩm nào? Tên tác giả?
b. Nhận
biết
Nhân vật xưng cháu là ai?
Nói chuyện với ai?
Câu 2: Vận dụng
“ ... Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe chờ nó
gọi “ba vô ăn cơm”. Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra:
- Cơm chín
rồi!
Anh cũng
không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo:
- Con
kêu rồi mà người ta không nghe”.
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)
Con bé trong đoạn truyện
vi phạm phương châm hội thoại nào trong giao tiếp? Vì sao có sự vi phạm đó?
Câu 3: Vận dụng cao
Viết đoạn văn trình bày cảm
nhận của em về vẻ đẹp và ý nghĩa của hình ảnh trong câu thơ sau:
Đêm
nay rừng hoang sương muối
Đứng
cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu
súng trăng treo.
(Đồng chí – Chính Hữu)
II. LÀM VĂN: Vận dụng cao
Trong vai Thúy Kiều, hãy
chuyển đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du thành bài văn tự sự.
HƯỚNG DẪN GIẢI
CHI TIẾT
|
Phần
|
Nội dung
|
|
I
|
1.
Phương pháp: căn cứ bài Lặng lẽ Sa Pa
Cách giải:
- Tác phẩm: Lặng lẽ Sa Pa
- Tác giả: Nguyễn Thành Long
2.
Phương pháp: căn cứ bài Phương châm hội
thoại; phân tích
Cách giải:
- Phương châm lịch sự đã bị bé Thu vi phạm
- Nguyên nhân vì: Bé Thu không nhận ra ông Sáu là ba, bởi
vậy trước những cử chỉ yêu thương của ông Sáu nó luôn tìm cách cự tuyệt.
3.
Phương pháp: căn cứ bài Đồng chí, phân
tích
Cách giải:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và khổ thơ cuối
- Câu
thơ thứ nhất đã miêu tả rất chân thực hoàn
cảnh chiến đấu khắc nghiệt của người lính:
“Đêm nay rừng hoang sương muối”
Không gian hùng vĩ, hoang vu "rừng hoang sương
muối", thời gian gian khó mùa đông ở Việt Bắc sương muối phủ đầy trời.
Trên cái nền thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa khắc nghiệt ấy, tình đồng chí được
tôi luyện trong thử thách gian lao, trong nhiệm vụ sinh tử. Cũng chính ở cái
nơi mà sự sống, cái chết chỉ kề nhau trong tích tắc ấy tình đồng chí càng trở
nên thiêng liêng, cao đẹp.
- Câu
thơ thứ hai đã khắc họa tư thế chiến đấu
của những người lính:
“Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”
Những người lính sát cánh bên nhau “đứng cạnh bên
nhau”– có tình đồng chí, đồng đội, người. Họ tạo ra tư thế thành đồng vách sắt
lính ở trong tư thế chủ động, mạnh mẽ “chờ giặc tới”. Hình ảnh
đôi bạn chiến đấu đứng cạnh nhau vững chãi làm mờ đi cái gian khổ khắc nghiệt
của cuộc chiến tạo nên tư thế thành đồng vách sắt trước quân thù. Hai câu thơ
đối nhau rất cân chỉnh, đối lập giữa khung cảnh lạnh lẽo, buốt giá nơi rừng
hoang và tình cảm ấm nồng giữa những người lính.
- Hình ảnh “đầu súng
trăng treo” kết thúc bài thơ là điểm nhấn của khổ 3 cũng là điểm
sáng của toàn bài. Hình ảnh này vừa có ý nghĩa thực, vừa có ý nghĩa
biểu tượng.
+ Nghĩa thực: như Chính Hữu từng tâm sự,
trong đêm phục kích chờ giặc, ông chỉ có những người bạn chiến đấu, khẩu súng
và vầng trăng, Trời về khuya, có lúc nhìn lên, trăng như treo đầu ngọn súng.
Từ thực tế đó, ông đã viết nên hình ảnh “đầu súng mảnh trăng treo”, sau này cắt
bớt chữ “mảnh” thành “đầu súng trăng treo”
+ Nghĩa biểu tượng: nhịp thơ 2/2 kết thúc
bằng thanh bằng khiến ta liên tưởng 1 cái gì đó không bị buộc chặt mà chung
chiêng, bát ngát, vang xa. Súng là hình ảnh của chiến tranh khói lửa, trăng
là hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc sống thanh bình. Sự hòa hợp của
trăng và súng toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính và tình đồng chí của họ,
vừa nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh yêu nước: Người lính cầm súng
là để bảo vệ cho độc lập, tự do của đất nước. Trăng và súng là gần và xa, là
chiến sĩ và thi sĩ, là hiện thực và lãng mạn. Tất cả hòa quyện tạo nên vẻ đẹp
của người lính, đời lính.
-> Chỉ với 3 câu thơ, biểu hiện đẹp nhất của tình đồng
chí, đồng đội, của cuộc đời người chiến sĩ đã được kết lại.
|
|
II
|
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề
2. Thân bài
a. Giới thiệu về bản thân và nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh
hiện tại
- Giới thiệu bản thân: Tôi là Vương Thúy Kiều, sinh ra
trong một gia đình bậc trung, có cha mẹ hiền lương và hai em tốt tính. Tôi có
cuộc sống rất hạnh phúc
- Nhưng tai biến xảy ra với gia đình, tôi phải bán mình
chuộc cha ...
- Tôi bán mình cho Mã Giám sinh và cũng từ đó cuộc đời
tôi là chuỗi những ngày bi ai, khốn khổ ...
b. Ở lầu Ngưng Bích
- Tôi bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích, bốn phía hoang
vắng, ...(dựa vào văn bản để miêu tả). Lòng tôi đau đớn, cô đơn đến tột cùng.
- Tôi nhớ Kim Trọng - người mà tôi yêu nhất, nhưng tôi
đã phụ chàng ...
- Tôi nhớ cha mẹ, hai người tuổi đã cao, giờ ai quan
tâm lo lắng ...
- Tôi đau đớn cho phận mình bạc bẽo, nhìn ra bốn phía
tương lai chỉ thấy mịt mùng bão tố, ...
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề
|
0 nhận xét: